Thiết kế web bởi Expro Việt Nam

Chiến lược trọng tâm doanh nghiệp – BGC’S Matrix

Thứ Ba, 12 Tháng Tư , 2022
Tiếp nối bài viết trước, sau khi hoàn tất tăng quy mô, doanh nghiệp sẽ tiến hành tăng hiệu quả (năng suất), mục đích là chiếm được thị phần càng nhiều càng tốt, ma trận BCG hỗ trợ làm rõ nét chiến lược phù hợp để doanh nghiệp tăng năng suất. Nhưng trước hết, nhà phân tích đầu tư sử dụng mô hình PIMS và đường cong kinh nghiệm để biết được về tầm quan trọng của thị phần.

1. MÔ HÌNH PIMS (PROFIT IMPACT OF MARKETING STRATEGY):

MÔ HÌNH PIMS (PROFIT IMPACT OF MARKETING STRATEGY)
MÔ HÌNH PIMS (PROFIT IMPACT OF MARKETING STRATEGY)
– Mô hình này xét về độ tương quan giữa Lợi nhuận và Thị phần. Đây là chiến lược về thị phần tác động đến lợi nhuận.
Kết quả nghiên cứu mô hình như sau:
– Thị phần 10 – 20%: Lợi nhuận tăng mạnh, thường là tăng gấp đôi. Nguyên nhân, thị phần đột nhiên tăng gấp đôi, doanh thu tăng gấp đôi, lợi nhuận tăng gấp đôi.
– Thị phần 20 – 40%: Lợi nhuận tăng ít. Khi thị phần của doanh nghiệp đạt 20%, các đối thủ sẽ để ý, họ sử dụng nhiều phương pháp giành lại thị phần. Lúc này, doanh nghiệp phải chi tiền nhiều hơn để đầu tư giữ được thị phần.
– Thị phần 40 – 50%: Lợi nhuận tăng mạnh. Khi ở mức thị phần này,doanh nghiệp đang chiếm thị phần số một và sử dụng quyền tăng giá thành sản phẩm, giảm chi phí để tăng lợi nhuận.

2. ĐƯỜNG CONG KINH NGHIỆM (EXPERIENCE CURVE):

ĐƯỜNG CONG KINH NGHIỆM (EXPERIENCE CURVE)
ĐƯỜNG CONG KINH NGHIỆM (EXPERIENCE CURVE)
– Dựa trên số lượng sản phẩm (Q) và giá thành đơn vị một sản phẩm (P). Giá thành càng cao, số lượng càng ít và ngược lại. Giá thành càng thấp khi sản xuất càng nhiều, chi phí trên một sản phẩm sẽ rẻ.
=> Phải tăng thị phần =>Tăng biên lợi nhuận => Tăng hiệu quả.

3. BCG’S MATRIX:

Mô hình BCG’s Matrix
Mô hình BCG’s Matrix
– Mô hình BCG’s Matrix góp phần trong công cuộc xây dựng chiến lược tăng hiệu quả dựa vào Thị phần tương đối so với đối thủ gần nhất và tốc độ tăng trưởng của ngành.
VD: Đối thủ gần nhất của Vinaphone (21%) là Viettel (51%); Mobiphone (18%).
– Bốn vị thế sau sẽ được tạo ra: Ngôi sao (Cash Absorber), Bò sữa (Cash cow), Dấu chấm hỏi (Question mark), Con chó (Dog).
– Khi tốc độ tăng trưởng của ngành cao, thị trường tương đối so với đối thủ cao, doanh nghiệp đang ở vị thế Ngôi sao – giai đoạn tăng trưởng, và cần đầu tư để giữ được thị phần cho doanh nghiệp. Nếu không đầu tư, thị phần sẽ thuộc về đối thủ và rơi vào trạng thái dấu chấm hỏi.
– Dấu chấm hỏi xảy đến khi thị phần của doanh nghiệp thấp, trong thời điểm tốc độ tăng trưởng của ngành đang tăng. Doanh nghiệp cần trả lời 2 câu hỏi quan trọng: Có đầu tư để lấy lại thị phần không? Có rời thị trường do mất quá nhiều thị phần không? Nếu dấu chấm hỏi “giậm chân” đến khi tốc độ tăng trưởng ngành giảm sẽ trở thành vị thế con chó.
– Khi tốc độ tăng trưởng ngành giảm sẽ rơi vào vị thế con bò sữa hay còn gọi là giai đoạn Harvest (Gặt hái). Lúc này, doanh nghiệp đang ở giai đoạn trưởng thành, hưởng lợi nhuận. Thách thức ở vị thế này là làm sao kéo dài được giai đoạn trưởng thành.
VD: Amazone có tổng lợi nhuận 5 năm đầu tiên 5 tỷ USD, 3 năm tiếp theo lợi nhuận ở mức trăm tỷ USD => Khi thị phần gia tăng, tốc độ tăng trưởng ngành tăng => Trở thành ngôi sao, bước qua được giai đoạn phát triển đến giai trưởng thành (3 năm kế tiếp), khi tốc độ tăng trưởng ngành giảm, thị phần vẫn cao => “gặt hái”.
Vậy, khi doanh nghiệp sẽ làm gì khi đang ở vị thế con chó (Dog)?
– Vị thế con chó, thị phần thấp, tốc độ tăng trưởng ngành thấp, không thể tăng thị phần để sang vị thế bò sữa nguyên nhân vì không đủ nguồn lực. Chuyển đổi sang vị thế dấu chấm hỏi bằng cách sáng tạo ra xu hướng mới sau đó gia tăng thị phần để trở thành vị thế Ngôi sao, và khi tốc độ tăng trưởng ngành giảm, Ngôi sao sẽ trở thành Bò sữa (Cash cow).
VD: Steve Job và một người bạn – Steve Wozniak lập ra thế hệ máy Mac và thế hệ đồ họa và được sử dụng tại các công ty lớn. Sau đó, Bill Gate đã đưa ra chiến lược Window, với tính năng tiện nghi và dễ sử dụng hơn, để cạnh tranh với Mac. Steve Job mất thị phần và phải rời khỏi công ty của ông. Sau đó, ông trở lại và phục hưng Apple với các sản phẩm mới, cải tiến, được ưa chuộng => Apple quay lại vị thế Ngôi sao.
=> Bài học rút ra: để có thể cạnh tranh, tư duy phải luôn có sự đổi mới và sáng tạo. Khi Airpods, Iphone ra đời ko có đối thủ là một lợi thế của doanh nghiệp.
Tóm lại, mô hình BCG’s Matrix xác định vị thế doanh nghiệp, nhằm có chiến lược phù hợp để gia tăng thị phần từ đó tăng năng suất. Theo thống kê mô hình PIMS, kết quả từ việc tăng thị phần, là sự gia tăng biên lợi nhuận. Một doanh nghiệp khôn ngoan sở hữu vị thế cao và chiến lược đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Tags: Chiến lược kinh doanh, Chiến lược trọng tâm, Chiến lược trọng tâm doanh nghiệp, Đường cong kinh nghiệm, Ma trận BCG's, Mô hình PIMS, Phân tích doanh nghiệp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *